Phần này tổng hợp các phân tích bình duyệt trên mẫu thu tại Việt Nam và đối chiếu với tiêu chuẩn quốc tế khi có. Một lưu ý phương pháp chi phối cách đọc toàn bộ phần này: hầu hết các bài Việt Nam báo phần trăm diện tích pic GC-MS chưa hiệu chỉnh hệ số đáp ứng, thường chỉ một mẫu cho mỗi địa điểm và ít khi ghi số lô. Các con số dưới đây là ảnh chụp tại một điểm, một thời điểm, không phải khoảng thương mại.
6.1 Bảng tổng hợp
| Tinh dầu (loài) | Vùng, bộ phận | Cấu tử chính | Nguồn |
|---|---|---|---|
| Sả chanh Cymbopogon citratus | Phú Thọ, thân và lá (4 mẫu) | geranial 35,2–42,5; neral 28,9–34,3; tổng citral 64,2–76,2 | Tạp chí Công nghệ Sinh học 14(4), 2016 |
| Sả Java C. winterianus | Buôn Đôn, Đắk Lắk, thân | citronellal 33,6; geraniol 16,2 | TNU J Sci Tech 2021, doi:10.34238/tnu-jst.4897 |
| Sả hoa hồng C. martinii | Việt Nam | geraniol 69,2; geranyl acetate 12,1 | Tạp chí Sinh học 29(4), 2007 |
| Tràm Melaleuca cajuputi | 9 địa điểm, lá | 1,8-cineole từ 0 tới 47,0 | Agriculturae Conspectus Scientificus 2019; World Academy of Sciences Journal 2024, doi:10.3892/wasj.2024.282; Tạp chí KH&CN ĐH Công nghiệp Hà Nội 2023, Tạp chí Phân tích Hóa, Lý và Sinh học 2020 (tóm tắt) |
| Quế Cinnamomum cassia | Yên Bái, Quảng Ngãi, Kon Tum; vỏ | trans-cinnamaldehyde 93,3–96,1 | Trop J Nat Prod Res 8(4), 2024, doi:10.26538/tjnpr/v8i4.9; Indian J Agric Res 2025 (tóm tắt) |
| Quế (cành, lá) | Yên Bái, quy mô 200 kg/mẻ | trans-cinnamaldehyde 88,1; o-methoxycinnamaldehyde 0,36 | Trop J Nat Prod Res 7(11), 2023, doi:10.26538/tjnpr/v7i11.29 |
| Hồi Illicium verum | Lạng Sơn; Cao Bằng; quả | trans-anethole 88,8 (Lạng Sơn); 86,9 hoặc 76,7 (Cao Bằng, bài tự mâu thuẫn); estragole 0,42 | Vietnam J Sci Technol 48(2), 2010 (tóm tắt); TNU J Sci Tech 2023, doi:10.34238/tnu-jst.6501 |
| Bạc hà Á Mentha arvensis | Khánh Hòa, Lâm Đồng, TP.HCM, Bà Rịa–Vũng Tàu | menthol 67,9–70,6 | Uchenye Zapiski Kazan Univ 2022, doi:10.26907/2542-064X.2022.1.36-45; Tạp chí KH&CN ĐH Nguyễn Tất Thành 2021 (tóm tắt) |
| Hương nhu trắng Ocimum gratissimum | Hà Nội | eugenol 80,4 (2022); 82,7 (2007) | TNU J Sci Tech 2022, doi:10.34238/tnu-jst.6294 |
| Hương nhu tía O. tenuiflorum | Việt Nam | methyl eugenol 46,1; eugenol 11,8 | Vietnam J Sci Technol Eng 2024, doi:10.31276/VJSTE.66(2).69-75 (tóm tắt) |
| Màng tang Litsea cubeba | quả (Việt Nam); vỏ thân (Pù Hoạt, Nghệ An) | citral 70,9 (quả); 57,6 (vỏ thân); lá là kiểu cineole/sabinene | Tạp chí Sinh học 2007; Tạp chí KH&CN Lâm nghiệp 2026 |
| Gừng Zingiber officinale | Kỳ Sơn, Nghệ An; Đèo Cả, Phú Yên | zingiberene 30,8 (Nghệ An); không có zingiberene trong cấu tử chính (Phú Yên) | Tạp chí Khoa học ĐH Thủ đô Hà Nội 2025 (tóm tắt); Tạp chí Khoa học ĐH Khánh Hòa 2024 |
| Nghệ Curcuma longa | Việt Nam | ar-turmerone 30,3; α-turmerone 14,1 | Vietnam J Sci Technol 48(5), 2010 (tóm tắt) |
| Riềng Alpinia galanga | Khánh Hòa, thân rễ | 1,8-cineole 42,5 | Rec Nat Prod 2022, doi:10.25135/rnp.263.21.05.2074 |
| Vỏ bưởi Citrus maxima | Bưởi Da Xanh; vỏ bưởi non ĐBSCL | limonene 91,2; 89,1–94,4 | Hue Univ J Sci Nat Sci 2021; Trop J Nat Prod Res 9(6), 2025 (cả hai tóm tắt) |
| Long não Cinnamomum camphora | Việt Nam, lá | kiểu linalool: linalool 91,1 | J Essent Oil Res 1993, doi:10.1080/10412905.1993.9698258 (tóm tắt) |
| Ngọc lan Michelia × alba | miền Bắc, thân và lá | linalool 80,7 (thân); 72,9 (lá) | Academia J Biol 2018, doi:10.15625/2615-9023/v40n3.13151 |
| Trầm cấy Aquilaria crassna | Bắc Giang, Khánh Hòa, Phú Quốc; gỗ | hiệu suất 0,25–0,32%; neopetasane 7,5–8,3; benzylacetone 10,5 (Bắc Giang) | Processes 2019, doi:10.3390/pr7070432 |
| Xá xị, vù hương C. parthenoxylon | gỗ cây hoang dại | safrole 90,3 | J Essent Oil Res 1995, doi:10.1080/10412905.1995.9698462 (tóm tắt) |
6.2 Chênh lệch với tiêu chuẩn quốc tế
Hình 5 đặt bốn chỉ tiêu Việt Nam cạnh khoảng tham chiếu quốc tế.
Quế. Dầu vỏ quế Việt Nam có trans-cinnamaldehyde 93–96%, vượt trần 88% của ISO 3216:1997 (TCVN 6029:2008; văn bản tiêu chuẩn chỉ đọc được một phần), và o-methoxycinnamaldehyde không được báo cáo trong các phân tích dầu vỏ đã đọc (chỉ 0,36% ở dầu cành lá) trong khi tiêu chuẩn yêu cầu 3–15% Đo. Có hai cách giải thích Suy luận: tiêu chuẩn được xây cho dầu cành lá kiểu Trung Quốc, nên dầu vỏ không cùng kiểu sản phẩm; hoặc phần trăm diện tích pic chưa hiệu chỉnh làm phồng cấu tử chính. Dù theo cách nào, dầu vỏ quế Việt Nam có thể không khớp hồ sơ sắc ký ISO 3216 dù chất lượng cảm quan cao. Nhãn "đạt ISO" cần ghi rõ đối chiếu với tiêu chuẩn nào.
Về loài: các mẫu trong bảng được tác giả ghi là C. cassia. Tài liệu quốc tế về coumarin (Phần III) nêu hàm lượng cao ở C. loureiroi, loài cũng phân bố ở Việt Nam. Hai loài khác nhau và việc định danh trong thương mại không luôn nhất quán. Chưa có bài nào trong các nguồn đã đọc định lượng coumarin trong tinh dầu quế Việt Nam; số 76,1 g/kg là trên vỏ, không phải trên dầu. Đây là khoảng trống quan trọng, vì coumarin có giới hạn trong thực phẩm và phải ghi nhãn trong mỹ phẩm.
Sả chanh. TCVN 11425:2016 (tương đương ISO 3217) yêu cầu hàm lượng carbonyl tính theo citral ≥ 75%. Hai trên bốn mẫu Phú Thọ có tổng citral theo GC dưới mức này; một đánh giá 5 nguồn gen sả tại Hà Nội cũng kết luận citral của sả chanh thấp hơn ISO 3217, trong khi sả dịu C. flexuosus cao hơn ISO 4718 Đo (Tạp chí Khoa học Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam 2022, tóm tắt). Hai cách đo khác nhau (phần trăm GC và chuẩn độ carbonyl), nhưng cùng chỉ một hướng: sả chanh Việt Nam dễ nằm ở ngưỡng dưới của tiêu chuẩn.
Tràm. Phát hiện quan trọng nhất của nhánh này: tràm Việt Nam không đồng nhất là kiểu 1,8-cineole Đo. Phân tích sáu địa điểm Nam Bộ (mỗi điểm một mẫu) tách hai nhóm: nhóm monoterpene có cineole (Long An 7,3%, Tây Ninh 23,0%) và nhóm không có cineole, giàu sesquiterpene (Đồng Tháp, Phú Quốc, U Minh Thượng, Bà Rịa–Vũng Tàu) (Agriculturae Conspectus Scientificus 2019; Hình 6). Ở miền Trung, cineole cao hơn: 47,0% (Tạp chí KH&CN ĐH Công nghiệp Hà Nội 2023, tóm tắt), 30,9% ở Phong Điền và 25,4% ở Hương Trà, Huế (Tạp chí Phân tích Hóa, Lý và Sinh học 2020, tóm tắt); số mẫu ở các điểm miền Trung không được nêu.
Mẫu Tràm Chim (Đồng Tháp) có methyl eugenol 48,3% và methyl isoeugenol 34,5%, bất thường với M. cajuputi; cần kiểm tra định danh loài trước khi dùng số liệu này cho mục đích thương mại Suy luận. Chưa có ISO hay TCVN cho dầu tràm Việt Nam, và chưa có bài bình duyệt về tràm Quảng Trị.
Hồi. Mẫu Cao Bằng có estragole 0,42%, thấp hơn mức khoảng 2% trong tổng quan quốc tế (Sharafan et al. 2022, doi:10.3390/molecules27030650). Đây là lợi thế an toàn nhưng mới dựa trên một mẫu; cis-anethole trong hồi Việt Nam chưa có số liệu (NR). Cần phân biệt Illicium verum với hồi Nhật I. anisatum độc: tín hiệu anisatin, chất gây co giật, ở I. anisatum cao khoảng 250 lần so với I. verum (Schrage et al. 2013, doi:10.1016/j.chroma.2013.07.072; chỉ đọc tóm tắt). Anisatin không bay hơi nên phải kiểm tra trên quả, không phải trên dầu Suy luận.
6.3 Các kiểu hóa học đáng chú ý
- Hương nhu: hương nhu trắng ổn định ở kiểu eugenol (80–83%, đo năm 2007 và 2022); hương nhu tía là kiểu methyl eugenol (46%). Methyl eugenol bị IFRA giới hạn (Phần VII), nên hai loại này không thay thế nhau được về mặt an toàn.
- Màng tang: citral tập trung ở quả và vỏ thân; lá là kiểu cineole hoặc sabinene. Dầu thương mại từ quả nên có citral khoảng 65–71% theo các mẫu Việt Nam Suy luận.
- Long não: Việt Nam có kiểu linalool (linalool trên 91% trong lá), khác với hình dung chung về long não giàu camphor. Kiểu camphor, cineole, borneol tại Việt Nam chưa có số liệu (NR).
- Gừng: hai mẫu Nghệ An và Phú Yên khác hẳn nhau (zingiberene 30,8% so với không có); có thể do giống hoặc nhầm loài, cần xác minh.
- Vỏ bưởi (C. maxima, pomelo): limonene 89–94%; các cấu tử vi lượng có thể mang mùi đặc trưng (nootkatone, aldehyde mạch dài) chưa được phân tích trên bưởi Việt Nam. Lưu ý: dữ liệu thiol và nootkatone ở Phần II–III là của bưởi chùm (grapefruit, C. paradisi), một loài khác.
6.4 Trầm hương: dầu chưng cất không phản ánh gỗ
Trầm cấy A. crassna ở ba vùng cho hiệu suất dầu chỉ 0,25–0,32% sau 72 giờ chưng cất, với neopetasane, β-agarofuran, jinkoh-eremol và agarospirol là cấu tử chính Đo (Processes 2019). Chromone, chỉ dấu chính để phân biệt trầm tự nhiên với trầm cấy, gần như không đi vào dầu chưng cất và phải phân tích bằng LC-MS trên gỗ hoặc dịch chiết. Nghiên cứu phân biệt bằng chromone mới có trên A. sinensis Trung Quốc (Li et al. 2016, doi:10.3390/ijms17050771; tóm tắt). Chúng tôi chưa tìm được nghiên cứu bình duyệt nào so sánh trầm tự nhiên và trầm cấy cho A. crassna Việt Nam.
6.5 Xá xị: chỉ thành phần và pháp lý
Dầu gỗ cây xá xị hoang dại Việt Nam chứa khoảng 90% safrole. Safrole thuộc Bảng I Công ước Liên Hợp Quốc 1988 về tiền chất theo INCB Red List ấn bản 23 (2025) mà một nhánh đọc được Chuẩn; nhánh khác chưa xác minh được trực tiếp từ trang mô tả; IFRA cấm dùng safrole, isosafrole và dihydrosafrole làm thành phần hương, với tổng ba chất trong sản phẩm cuối ≤ 0,01%. Tại Việt Nam, danh mục tiền chất theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP đã được thay bằng Nghị định 28/2026/NĐ-CP (mới đọc được Điều 3); phụ lục danh mục chưa đọc được nên chưa xác nhận vị trí của safrole trong danh mục (NR). Khuyến nghị Suy luận: không kinh doanh tinh dầu xá xị hoặc vù hương; yêu cầu phiếu phân tích ghi hàm lượng safrole với các tinh dầu Cinnamomum có nguồn gốc không rõ.
6.6 Khoảng trống dữ liệu
- Dầu gỗ pơ mu Fokienia hodginsii: không có phân tích bình duyệt; số liệu duy nhất (sách năm 1993, qua nguồn thứ cấp) mâu thuẫn với mô tả thương mại giàu nerolidol.
- Coumarin trong dầu quế Việt Nam; cis-anethole trong dầu hồi Việt Nam.
- Tinh dầu hoa: ngọc lan, hoa sứ, nhài thu tại Việt Nam.
- Dữ liệu nhiều lô, nhiều mùa vụ cho mọi loài: gần như toàn bộ là một mẫu cho mỗi điểm.
Chuyên đề tổng hợp từ 718 dữ kiện có nguồn, thu thập theo giao thức thống nhất và được kiểm tra chéo độc lập. Các mục gắn nhãn Suy luận là nhận định của nhóm biên soạn. Sơ đồ vẽ mới từ số liệu công bố. Tài liệu tham khảo khoa học, không phải tư vấn pháp lý, y khoa hay thay thế văn bản tiêu chuẩn.