muihuong.vnScent keeps what you forget. English

Thư viện cấu tử · Họ hoá học

Alcohol

Alcohols

20 chất trong thư viện

Dải bay hơi
< 150 °CĐầu Giữa > 290 °CCuối

20 chất thuộc họ này trong thư viện, điểm sôi từ 78 tới 314 °C. Độ trải của họ trên trục nói lên hành vi chung của nó. Vùng bên trái vạch đứt là các chất nhẹ hơn mọi cấu tử tinh dầu — chúng bay xong trước khi trục chính bắt đầu. Vùng bên phải là các chất nặng hơn dải tinh dầu — chúng còn ở lại sau khi trục chính đã hết.

Cấu trúc

Có ít nhất một nhóm hydroxyl gắn vào khung carbon. Nhóm này phân cực và tạo được liên kết hydro với phân tử bên cạnh.

Hành vi trên giấy thử

Liên kết hydro giữ chúng lại, nên chúng sôi cao hơn nhiều so với hydrocarbon cùng kích thước. Limonene và linalool đều mười carbon; linalool sôi cao hơn hai mươi hai độ chỉ vì một nhóm hydroxyl.

Các chất thuộc họ này

Xếp theo điểm sôi tăng dần — cũng là thứ tự bạn ngửi thấy chúng.

Cấu tửCASĐiểm sôiMô tả
Ethanol 64-17-5 78 °C Sắc, sạch, lạnh, phẳng. Không có tầng nào phía sau.
cis-3-Hexenol 928-96-1 156 °C Cỏ vừa cắt, xanh gắt, lạnh và ướt. Phân tử của mùi tổn thương thực vật.
1-Octen-3-ol 3391-86-4 175 °C Nấm tươi bẻ đôi, ẩm, hơi kim loại. Mũi người bắt được nó ở nồng độ cực thấp, nên nó vừa là mùi vừa là chuông báo.
3-Octanol 589-98-0 175 °C Nấm, đất, hơi béo. Mềm hơn 1-octen-3-ol và ít tanh hơn.
Linalool 78-70-6 198 °C Hoa, hơi ngọt, phẳng và gần như không có cạnh. Một mình nó khá nhạt; việc của nó là làm nền để những cấu tử khác đứng lên trên.
2-Methylisoborneol 2371-42-8 207 °C Đất ẩm, mốc, hầm tối. Cùng geosmin dựng nên mùi mưa đầu mùa.
Terpinen-4-ol 562-74-3 209 °C Đất, hơi thuốc, khô. Không dễ chịu khi đứng riêng, nhưng thiếu nó thì oải hương mất phần chân.
Menthol 89-78-1 212 °C Bạc hà, lạnh buốt ở hốc mũi. Nó không hạ nhiệt độ, nó chỉ thuyết phục cơ thể rằng nhiệt độ đã hạ.
Borneol 507-70-0 213 °C Long não nhưng mềm hơn, có nét gỗ ẩm. Nó là bản dịu của camphor.
α-Terpineol 98-55-5 219 °C Tử đinh hương, hơi xà phòng, mềm. Một trong những phân tử làm nhiệm vụ nối, ít khi được chú ý.
2-Phenylethanol 60-12-8 219 °C Hoa hồng, mật, hơi có nét bánh mì. Mềm và tròn, không có cạnh nào.
Citronellol 106-22-9 225 °C Hoa hồng, mềm, ít gắt hơn geraniol. Cùng một hướng mùi, nhưng nói nhỏ hơn.
Geraniol 106-24-1 230 °C Hoa hồng, ngọt, hơi sáp. Bền hơn citral và đi xa hơn trên da.
Geosmin 16423-19-1 270 °C Mưa đầu mùa, đất sau mưa, củ cải đường. Mũi người nhận ra nó ở mức vài phần nghìn tỷ — một trong những ngưỡng thấp nhất từng đo được ở người.
Cedrol 77-53-2 273 °C Gỗ tuyết tùng ngọt, khô, hơi có nét long não. Đậm hơn cedrene và bền hơn hẳn.
Nerolidol 7212-44-4 276 °C Gỗ hoa, hơi có vỏ cây tươi và một nét táo. Là cầu nối giữa họ hoa và họ nhựa gỗ.
Patchoulol 5986-55-0 287 °C Đất, gỗ ẩm, ngọt sâu. Đây là chất định nghĩa mùi hoắc hương.
Guaiol 489-86-1 288 °C Gỗ ẩm, hơi hoa hồng, có nét đất. Mềm hơn patchoulol và ít ngọt hơn.
α-Santalol 115-71-9 301 °C Kem, sữa, gỗ mềm. Ngọt mà không có đường, ấm mà không nóng.
α-Bisabolol 515-69-5 314 °C Hoa nhạt, ngọt mờ, gần như không có cạnh. Rất kín đáo so với khối lượng của nó.

Hai cách sắp xếp, hai câu hỏi

Điểm sôi trả lời câu hỏi khi nào bạn ngửi thấy chất này. Đó là trục mà site này dùng làm mặc định, vì nó ánh xạ trực tiếp vào trải nghiệm trên giấy thử.

Họ hoá học trả lời câu hỏi chất này cư xử thế nào: bền hay dễ hỏng, mềm hay sắc, và bạn nhận ra nó trên bản phân tích bằng cách nào. Ngành hương liệu quốc tế thường trình bày bảng cấu tử theo trục này.

Không trục nào đúng hơn trục nào. Biết cả hai là đọc được cả hai loại tài liệu. Đọc về trục điểm sôi